KKTM đã có thí nghiệm và rút được kinh nghiệm, thấy được vấn đề cần giải quyết và hướng phát triển sắp tới để tiếp chuyện đẩy mạnh mọi hoạt động
Một là, xác định rõ thêm mô hình KKTM Chu Lai; khẳng định những định hướng đã đề ra từ đầu, đây là một khu kinh tế tự do thật sự theo những chuẩn quốc tế.
Thứ ba, theo quy hoạch, KKTM Chu Lai còn một diện tích rất lớn (trên 70%) là nông thôn, với trên 50% là nông dân và ngư dân sinh sản nông nghiệp và ngư nghiệp. KKTM có thể học tập công nghệ, kinh nghiệm và cộng tác với Israel trong lĩnh vực này (như Công ty cổ phần Sữa TH ở Nghệ An đã làm). Thứ năm, xây dựng một trường đại học quốc tế trong KKTM Chu Lai để đào tạo nguồn nhân công chất lượng cao ngay cho KKTM và cho cả tỉnh và khu vực; gắn trường đại học này với doanh nghiệp để làm khu công nghệ cao.
Kinh tế nông, ngư nghiệp chủ yếu là dựa vào nông trại cùng hộ gia đình, kết liên chém đẹp với doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ. Trên cơ sở có thể chế đương đại cả về kinh tế lẫn hành chính, xây dựng cho được một bộ máy quản lý KKTM cũng có tầm đương đại như nhiều khu kinh tế trên thế giới, trong đó yếu tố quyết định là tuyển được những cán bộ, viên chức có tính chuyên nghiệp cao, có năng lực điều hành giỏi, bộ máy tinh gọn, hiệu lực hiệu quả, trong sạch không tham nhũng.
Quy hoạch cần định hướng, dự báo về những việc đó, nhưng rút cục, vẫn phải theo nhu cầu của thị trường trong nước và thế giới luôn biến động. Tổ chức Đảng và công tác Đảng cần được xây dựng thật sự hạp với yêu cầu và tính chất của KKTM, tạo ra mô hình mới về mặt này. Ban quản lý KKTM cần tìm mọi cách để xúc tiến đầu tư, đi sâu vào các thị trường để tìm đối tác, nhất là các đối tác chiến lược.
Mười năm (2003-2013) đã đi qua rất nhanh. Nếu KKTM có ý định đầu tư vào công nghiệp điện tử, thì cần đầu tư làm cả linh kiện, không phải ắt, nhưng nỗ lực làm được những gì có thể làm được trong chuỗi sản xuất, cung ứng khu vực, toàn cầu. Cần giữ lại những gì đã làm, đã có và phát huy hết hiệu quả của chúng, trừ những trường hợp đặc biệt, thì cần điều chỉnh một cách hợp lý theo đích chiến lược và nhu cầu của thị trường.
Nói một cách khác, KKTM Chu Lai sẽ đấu phát triển những ngành, lĩnh vực, cơ sở gì để có hiệu quả nhất, trước hết và đẵn là hiệu quả kinh tế, đi đầu nâng cao sức cạnh tranh. Cho nên, cần phát triển khu vực này theo hướng sinh sản hàng hóa lớn, công nghệ cao, tụ hội vào sinh sản thực phẩm (thịt cá, rau quả…) với chất lượng cao, sản phẩm sạch để cung ứng cho KKTM và thị trường bên ngoài, nâng cao đời sống của nông dân, ngư dân.
KKTM Chu Lai sẽ phát triển các ngành chế biến từ nguyên liệu của các nhà máy lọc hóa dầu ở ven biển miền Trung (Dung Quất, Phú Yên, Bình Định, Nghi Sơn) và chế biến sản phẩm nông, ngư nghiệp. Lưu Bích hầu hạ (*). Đặc biệt, là Việt Nam đang và sẽ tham dự thương lượng Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên thăng bình Dương (TPP) trong thời gian tới, cùng với vận dụng những quy chế về khu kinh tế tự do tốt nhất trên thế giới.
Chú trọng phát triển các dịch vụ tài chính, nhà băng, Thương mại, du lịch (sinh thái, nghỉ dưỡng biển. Những công việc cần tụ tập làm Dựa trên cơ sở thành công bước đầu của KKTM, xin đề xuất một số quan điểm về những công việc mà KKTM Chu Lai cần giao hội làm trong thời gian tới. Vấn đề này cần được xem là then chốt của việc xây dựng, hoàn thiện, thực thi các thể chế, cơ chế trong KKTM.
Bốn là, một định hướng rất quan trọng là phải tạo ra sự dị biệt, đặc thù về cơ cấu kinh tế của mình, chẳng thể có sự trùng lặp bất hợp lý với những nơi khác, nhất là ngay trong khu vực, địa bàn liền kề để gây ra sự cạnh tranh không cấp thiết và làm giảm hiệu quả.
Như vậy, có thể nhận xét rằng, những việc đã làm được ở KKTM Chu Lai tuy còn khiêm tốn, hạn chế, nhưng là đúng hướng và hăng hái.
Tiến tới tỷ trọng dịch vụ cao hơn công nghiệp, tạo điều kiện cho phát triển công nghiệp ngay trong KKTM và ở ngoài KKTM. 10 tuổi đối với một khu kinh tế mở (KKTM) có thể nói là vừa dài, vừa không dài. Thứ tư, để phát triển công nghiệp và dịch vụ, KKTM Chu Lai cần có một số doanh nghiệp lớn làm cốt cán, trong đó vấn mạnh doanh nghiệp FDI; đồng thời khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhưng có công nghệ cao, kết liên với nhau để có sức mạnh như doanh nghiệp lớn, hoặc làm vệ tinh cho doanh nghiệp lớn.
Đồng thời, KKTM đã kiến nghị với Trung ương giải quyết những vướng mắc, tồn tại về thiết chế, cơ chế, chính sách, đầu tư, song song tiếp chuyện mở rộng sự hiệp tác với các địa phương trong vùng, cả nước và hăng hái cuộn vốn FDI.
Chỉ làm tốt, tốt hơn, ở mức cao hơn chứ không làm kém hơn, dù có khó khăn trong bước đầu. Thứ hai, ưu tiên phát triển công nghiệp tương trợ có công nghệ cao, thân thiện môi trường. Năm là, một điểm quan trọng nữa là định ra những việc, những cơ sở cần làm mới.
Những gợi ý về mặt chiến lược Với cách nhìn chiến lược, xin được đề xuất một số gợi ý sau: Thứ nhất, hướng then chốt của cơ cấu kinh tế trong KKTM là kinh tế công nghệ cao, tiến dần đến kinh tế tri thức, kinh tế xanh. KKTM Chu Lai đã đóng góp không nhỏ cho sự phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Nam, chiếm khoảng 15% giá trị sản xuất công nghiệp của Quảng Nam.
Hai là, hiện đang bàn nhiều về đổi mới mô hình tăng trưởng và phát triển, tái cơ cấu nền kinh tế, có thể xem đây là một nhịp lớn mà Quảng Nam và KKTM Chu Lai cần và có thể tranh thủ đi đầu thực hiện. Ba là, thiết chế dù rất quan yếu, quyết định, song chỉ mới giải đáp câu hỏi “làm thế nào”, mặc dù đây là câu hỏi khó nhất mà bấy lâu ta thường không giải quyết được.
Khu kinh tế mở Chu Lai đóng góp khoảng 15% giá trị sản xuất công nghiệp của Quảng Nam Dài vì 10 năm đủ để một KKTM hình thành và trưởng thành, như Thâm Quyến (Trung Quốc), Incheon (Hàn Quốc)…, song lại không dài vì những điều kiện thực tiễn của nước ta còn hạn chế và bối cảnh quốc tế 5 năm gần đây rất khắc nghiệt. Trong KKTM đã có công nghiệp ô tô thì cần làm phụ tùng đi đôi với phát triển cơ khí chế tác tinh xảo.
Trung ương coi việc xây dựng và phát triển KKTM Chu Lai là việc không chỉ của Quảng Nam, mà có sự chỉ đạo chém trong từng việc lớn và từng bước phát triển; đề nghị các bộ, ban, ngành dành sự quan hoài chỉ đạo và tương trợ cấp thiết, quyết tâm thực hiện cho được các quyết định của Bộ Chính trị và Chính phủ về KKTM Chu Lai, sau 5 năm nữa tạo được mô hình hoàn chỉnh góp phần thiết thực vào việc thực hành thành công tái cơ cấu, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và phát triển của cả nước.
Do đó, cần xử lý tốt mối quan hệ giữa công nghiệp và dịch vụ, trong đó cốt tử là dịch vụ chất lượng cao, với nông nghiệp. Nếu điều kiện cho phép, có thể xem xét việc mở rộng KKTM Chu Lai thành một thành phố kiểu mới, một điểm điển hình cho sự phát triển nhanh và bền vững, thực hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa giang san.
Xét toàn diện, có thể nói, KKTM Chu Lai căn bản đã thành công, tạo được nền móng nhất định để tiếp tiến lên phía trước. Vấn đề quan trọng tiếp theo được đặt ra là “làm gì” cho đúng đích, định hướng, đúng với thế mạnh, lợi thế của KKTM Chu Lai đặt trong cả tỉnh Quảng Nam, phù hợp với điều kiện thực tế của KKTM, của tỉnh, sự hỗ trợ của Trung ương, sự hợp tác của các tỉnh khác và cộng tác quốc tế.
Trong bối cảnh mới của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, có những đặc điểm và quy định mới về thể chế, Việt Nam vẫn phải bền chí tuân và đi đầu thực hành những cam kết của mình khi nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) cũng như các định chế khác mà Việt Nam đã dự.
), Viễn thông, đào tạo, chuyển giao công nghệ để phục vụ cho cả vùng. (*) Nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) TS. Thành công là cơ bản KKTM Chu Lai đã hình thành khung căn bản cả về quy hoạch, mặt bằng, hạ tầng, một số cơ sở kinh tế quan yếu, tổ chức bộ máy quản lý.
Những vướng mắc về tư duy, quan điểm, chính sách cần có sự đột phá có thể thông qua thí nghiệm để rút kinh nghiệm và đi tới định hình.
Trong mối quan hệ này, dịch vụ có phần phục vụ công nghiêp, nông nghiệp về đầu vào, có phần dựa vào công nghiệp và nông nghiệp, chính yếu là tiêu thụ sản phẩm hàng hóa. Chỉ những nhà đầu tư trực tiếp biết cần và có thể làm gì. KKTM kết liên với Đà Nẵng, Quảng Ngãi về chuyển vận hàng không, chuyển vận biển.
Mọi sự cản ngăn cần được cố giải quyết trong phạm vi thẩm quyền của KKTM và đặc biệt đề xuất với Trung ương chỉ đạo và cho tổ chức thực hiện.